Tìm hiểu Liên minh kinh tế và tiền tệ Tây Phi

Trên thế giới, có rất nhiều quốc gia từ bỏ tiền tệ của nước mình chuyển sang sử dụng tiền tệ của một quốc gia khác và tất nhiên, nước đó phải là nước có tiền tệ mạnh và bền vững như El Sanvador hay Ecuador thậm chí giàu có như Panama cũng chuyển sang dùng đồng USD. Nhưng cũng có một số nước cùng chung khu vực, lãnh thổ thì họ liên minh với nhau để lặp đồng tiền riêng, chẳng hạn EURO… và Tây Phi cũng thế, tám nước Tây Phi đã liên minh với nhau để thành lập tiền tệ chung gọi là Đồng Franc Tây Phi.

Các nước tham gia khối kinh tế và tiền tệ Tây Phi, có những nước đã tham gia rất lâu thậm chí tham gia từ khi mới giành độc lập. Nhưng có những nước từ bỏ tiền tệ mình tham gia vào đồng Tây Phi ví dụ như Guiness Bissua năm 1997. Cùng xem nhé! (Đây là ý kiến, suy nghĩ, lập luận của tác giả, nên không chắc là hoàn toàn 100% đúng nhưng được rút rư từ những tài liệu xem xét và nghiên cứu, xin cám ơn)

Tám nước Tây Phi gồm ai?

Đồng franc Tây Phi CFA  là loại tiền của tám nước độc lập ở Tây Phi gồm: Benin , Burkina Faso , Guinea-Bissau , Bờ Biển Ngà , Mali , Niger , Senegal và Togo . Tám quốc gia này có dân số kết hợp là 105,7 triệu người trong năm 2014, và GDP tổng cộng là 78,4 tỷ đô la Mỹ (tính đến năm 2012).

Từ viết tắt CFA là viết tắt của Communauté Financière d’Afrique (“Cộng đồng tài chính châu Phi”) hoặc Communauté Financière Africaine (“Cộng đồng tài chính châu Phi”). Đồng tiền được phát hành bởi BCEAO ( Banque Centrale des États de l’Afrique de l’Ouest , “Ngân hàng Trung ương của các quốc gia Tây Phi”), nằm ở Dakar , Senegal , cho các thành viên của UEMOA ( Union Économique) et Monétaire Ouest Africaine , ” Liên minh kinh tế và tiền tệ Tây Phi “). Đồng franc được chia nhỏ thành 100 centimes nhưng không có mệnh giá nào được phát hành.

Xét về yếu tố lịch sử

Tám nước Tây Phi xét về lịch sử đa phần đều là những quốc gia Tây Phi thuộc Pháp. Đây là một liên bang 8 xứ thuộc địa của Pháp ở châu Phi gồm: Mauritanie, Sénégal, Soudan thuộc Pháp (nay là Mali), Guinée thuộc Pháp (nay là Guinée) (Chỉ có Guinee Bissau mới tham gia cộng đồng Tây Phi), Côte d’Ivoire, Niger, Thượng Volta (nay là Burkina Faso) và Dahomey (nay là Bénin). Liên bang này được thành lập vào năm 1895. Lúc đầu chỉ có 4 xứ Sénégal, Soudan thuộc Pháp, Guinée thuộc Pháp và Côte d’Ivoire. Đứng đầu liên bang là tổng toàn quyền, lúc đầu đóng ở Saint-Louis (Sénégal) về sau đóng ở Dakar (cũng thuộc Sénégal). Các xứ khác lần lượt gia nhập sau. Năm 1958, Tây Phi thuộc Pháp giải thể. Tây Phi thuộc Pháp rộng 4.689.000 km² (phần lớn là hoang mạc và bán hoang mạc Sahara). Ngoại trừ Guiness Bissau thuộc địa Bồ Đào Nha gia nhập liên minh chậm nhất thì quốc gia Guinee tách riêng sử dụng đồng tiền riêng của mình.

Xét về yếu tố kinh tế

Trong một cấu trúc kinh tế, thông thường sự xuất phát điểm tương đồng với nhau dễ gắn bó và giao thoa với nhau để cùng chung một tiền tệ. Ví dụ Châu Âu, thời Tây Âu mới thành lập liên minh EU, thì các quốc gia này đều có sự phát triển tương đồng nhau như Pháp với Tây Ban Nha, Đức, Anh… thì các quốc gia Tây Phi này họ cũng cùng xự xuất phát điểm với nhau. Do đó khi thành lập liên minh tiền tệ sẽ tạo nên sự thông thoáng trong giao dịch thương mại, tạo nên sức mạnh đồng tiền chung với “sức kéo nền kinh tế” trong đó quốc gia mạnh, giàu tài nguyên sẽ hỗ trợ giúp quốc gia khác nhỏ hơn về quy mô kinh tế hay nghèo hơn về tài nguyên… và sự tự do đó tạo nên cán cân cân bằng giữ đồng tiền được bền vững hơn là sự tách ra riêng rẻ mang tính “bờ vực”.

Xét về yếu tố xã hội

Trong nhiều khía cạnh để trở thành nguyên nhân giúp cộng đồng gần nhau hơn để trở thành một liên minh ngoài yếu tố kinh tế, lịch sử thì yếu tố xã hội vô cùng quan trọng. Xã hội gắn liền với chủng tộc, dân tộc, bộ tộc, văn hóa, phong tục… thì rõ ràng nhìn tổng thể mặt bằng của Các quốc gia Tây Phi thì đa phần họ cùng một sắc tộc cũng như nền văn hóa bản địa. Mặc dù có rất nhiều nền văn hóa ở Tây Phi, từ Nigeria tới Sénégal, nhưng cũng có nhiều điểm tương đồng trong cách phục sức, ẩm thực và các thể loại âm nhạc trong vùng. Hồi giáo là tôn giáo chính ở vùng Tây Phi trong đất liền, xa hơn về phía bờ biển phía tây, Thiên chúa giáo phổ biến ở những vùng ven biển thuộc Nigeria, Ghana và Côte d’Ivoire, ngoài ra còn có các yếu tố tôn giáo bản địa truyền thống vẫn tồn tại phổ biến đến ngày nay. Bóng đá cũng là một môn thể thao được ưa chuộng. Một số đội tuyển bóng đá quốc gia của vùng Tây Phi, đặc biệt là Nigeria, thường có mặt ở các kỳ World Cup. Mbalax, highlife, fuji và Afrobeat là những thể loại âm nhạc hiện đại được ưa thích trong vùng. Một kiểu quần áo phổ biến và tiêu biểu cho vùng này là chiếc áo dài boubou (còn được biết đến dưới các tên Agbada hoặc Babariga) có nguồn gốc từ quần áo của tầng lớp quý tộc sống ở những đế chế Tây Phi vào thế kỷ 12. Chiếc trống Djembre, có nguồn gốc từ người Mandinka, là một trong những nhạc cụ phổ biến nhất của các sắc tộc Tây Phi. Những biểu tượng văn hóa khác của vùng là những chiếc áo len Kenta của người Aka tại Ghana và phong cách kiến trúc theo kiểu Sudan-Sahel phổ biến ở rất nhiều nơi.

Lịch sử đồng Franc Tây Phi

Đồng franc CFA được giới thiệu đến các thuộc địa của Pháp ở Tây Phi vào năm 1945, thay thế cho đồng franc của Tây Phi . Các thuộc địa và vùng lãnh thổ Tây Phi sử dụng đồng franc CFA là Bờ Biển Ngà , Dahomey , Pháp Sudan , Mauritania , Niger , Sénégal , Togo và Upper Volta . Đồng tiền này tiếp tục được sử dụng khi các thuộc địa này giành được độc lập, ngoại trừ ở Mali (trước đây là Pháp Sudan), được thay thế bằng đồng franc CFA với đồng franc của riêng mình vào năm 1961. Năm 1973, Mauritania thay thế đồng franc CFA bằng ouguiya với tỷ lệ 1 ouguiya = 5 franc. Mali đã gia nhập vào được CFA franc năm 1984, với tỷ lệ 1 CFA franc = 2 franc Malian. Thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha Guinea-Bissau đã thông qua CFA franc vào năm 1997, thay thế Guinea-Bissau peso với tỷ lệ 1 CFA franc = 65 peso.

Các seri tiền giấy Tây Phi đã in

Khi đồng franc CFA được giới thiệu, các tờ tiền do Banque Centrale des États de l’Afrique Occidentale (BCEAO) phát hành với mệnh giá là 5, 10, 25, 50, 100 và 1000 franc lúc được lưu hành. Mệnh giá 500 franc đã được bổ sung vào năm 1946, tiếp theo là 5.000 franc năm 1948. Năm 1955, Institut d’Emission de l’AOF et du Togo tiếp quản sản xuất tiền giấy, phát hành các tờ mệnh giá cho 50, 100, 500 và 1000 franc.

Năm 1959, BCEAO đã tiếp quản việc phát hành tiền giấy và in lại tờ mệnh giá 5.000 franc. Ngoại trừ một vài vấn đề ban đầu, tờ tiền của BCEAO in theo một ký tự để chỉ ra quốc gia phát hành. Tờ 50 franc được phát hành lần cuối vào năm 1959, với 100 franc không được phát hành kể từ năm 1965. Mệnh giá 10.000 franc được giới thiệu vào năm 1977, tiếp theo làmệnh giá 2.500 franc vào năm 1992

Năm 2004, một loạt các tiền mới, seri mới được giới thiệu với mệnh giá 1.000, 2.000, 5.000 và 10.000 franc, với mệnh giá 500 franc đã được thay thế bằng một đồng xu năm trước. Các tờ tiền mới hơn chứa các tính năng bảo mật được cập nhật và có thiết kế hiện đại hơn. Sự thay đổi đã được hoan nghênh vì nhận thức rằng những tờ tiền cũ đang lưu hành dễ bị dơ và hư bởi chất lượng giấy giống của Pháp. Màu sắc của mệnh giá 5.000 franc đã được thay đổi từ màu xanh sang màu xanh lá cây. Vào ngày 30 tháng 11 năm 2012, Banque Centrale des États de l’Afrique de l’Ouest (Ngân hàng Trung ương các quốc gia Tây Phi) đã phát hành một tờ tiền giấy 500 franc.

Mã quốc gia in trên tiền Tây Phi

Banknotes of the West African CFA franc (2003 issue)
Giá trị Mặt trước Mặt sau Mã ký tự
500 francs CFA Biểu tượng bằng đồng thau của người Ashanti; Tin học hóa ở Tây Phi: tay chạm vào một máy tính bảng cảm ứng được kết nối với các nước Tây Phi trên bản đồ phác thảo của Châu Phi Hà Mã A (Côte d’Ivoire / Ivory Coast); B (Benin); C (Burkina Faso); D (Mali); H (Niger); K (Senegal); T (Togo); S (Guinea-Bissau)
1000 francs CFA Biểu tượng bằng đồng thau của người Ashanti và biểu tượng của giáo dục và sức khỏe Lạc Đà A (Côte d’Ivoire / Ivory Coast); B (Benin); C (Burkina Faso); D (Mali); H (Niger); K (Senegal); T (Togo); S (Guinea-Bissau)
2000 francs CFA Biểu tượng bằng đồng thau của người Ashanti và giao thông vận tải Đàn cá trong hồ A (Côte d’Ivoire / Ivory Coast); B (Benin); C (Burkina Faso); D (Mali); H (Niger); K (Senegal); T (Togo); S (Guinea-Bissau)
5000 francs CFA Biểu tượng bằng đồng thau của người Ashanti và nông nghiệp Linh dương trên đồng cỏ A (Côte d’Ivoire / Ivory Coast); B (Benin); C (Burkina Faso); D (Mali); H (Niger); K (Senegal); T (Togo); S (Guinea-Bissau)
10,000 francs CFA Biểu tượng bằng đồng thau của người Ashanti và viễn thông Chim (Tauroco macrorhynchus) A (Côte d’Ivoire / Ivory Coast); B (Benin); C (Burkina Faso); D (Mali); H (Niger); K (Senegal); T (Togo); S (Guinea-Bissau)

 

 

 

 

 

 

 

Seri tiền đang lưu hành

Mệnh giá 500 Francs
Mệnh giá 1.000 Francs
Mệnh giá 2.00 Francs
Mệnh giá 5.000 Francs
Mệnh giá 10.000 Francs

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *